Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Bình Dương.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
De cuong gioi thieu Luat trung cau y dan_2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Quốc hội
Người gửi: Trường THCS Nguyễn Văn Tiết
Ngày gửi: 15h:49' 13-11-2017
Dung lượng: 135.0 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn: Quốc hội
Người gửi: Trường THCS Nguyễn Văn Tiết
Ngày gửi: 15h:49' 13-11-2017
Dung lượng: 135.0 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM
BAN NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG VÀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN
Luật trưng cầu ý dân (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015; Luật được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
Việc ban hành Luật xuất phát từ các lý do chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, phản ánh nhu cầu khách quan, cần thiết phải điều chỉnh bởi luật nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực vào việc quyết định các công việc của Nhà nước và xã hội phù hợp với bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; góp phần thiết thực vào việc phản ánh các giá trị tư tưởng trọng dân, tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc được thể hiện rõ trong truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, xuất phát từ bản chất sâu xa của trưng cầu ý dân là một phương thức để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước trong từng thời điểm cụ thể; việc ban hành Luật góp phần tạo ra cơ sở pháp lý đồng bộ và những điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng nhu cầu khách quan trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Thứ tư, tạo điều kiện để Nhân dân có thể tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể vào những vấn đề quan trọng của đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên hầu hết các lĩnh vực hiện nay.
II. CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN XÂY DỰNG LUẬT
Việc xây dựng Luật phải xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo sau đây:
1. Thể chế hóa các quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; về phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường đoàn kết và đồng thuận xã hội, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia rộng rãi, trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước thông qua các cuộc trưng cầu ý dân được tổ chức theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
2. Nội dung của Luật phải phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật có liên quan, góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
3. Xây dựng Luật phải dựa trên cơ sở thực tiễn và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, phản ánh đúng các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam hiện nay và phải tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành của Luật.
4. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển các kết quả của công tác xây dựng pháp luật của nước ta qua các thời kỳ; nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của các nước về xây dựng, thực hiện pháp luật về trưng cầu ý dân.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật gồm 8 chương, 52 Điều:
- Chương I gồm 13 điều (từ Điều 1 đến Điều 13) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc trưng cầu ý dân; người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân; các vấn đề trưng cầu ý dân; phạm vi tổ chức, ngày bỏ phiếu, các trường hợp không tổ chức trưng cầu ý dân; giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân; hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân; kinh phí tổ chức và các hành vi
VỤ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM
BAN NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG VÀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN
Luật trưng cầu ý dân (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015; Luật được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
Việc ban hành Luật xuất phát từ các lý do chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, phản ánh nhu cầu khách quan, cần thiết phải điều chỉnh bởi luật nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực vào việc quyết định các công việc của Nhà nước và xã hội phù hợp với bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; góp phần thiết thực vào việc phản ánh các giá trị tư tưởng trọng dân, tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc được thể hiện rõ trong truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, xuất phát từ bản chất sâu xa của trưng cầu ý dân là một phương thức để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước trong từng thời điểm cụ thể; việc ban hành Luật góp phần tạo ra cơ sở pháp lý đồng bộ và những điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng nhu cầu khách quan trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Thứ tư, tạo điều kiện để Nhân dân có thể tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể vào những vấn đề quan trọng của đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên hầu hết các lĩnh vực hiện nay.
II. CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN XÂY DỰNG LUẬT
Việc xây dựng Luật phải xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo sau đây:
1. Thể chế hóa các quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; về phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường đoàn kết và đồng thuận xã hội, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia rộng rãi, trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước thông qua các cuộc trưng cầu ý dân được tổ chức theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
2. Nội dung của Luật phải phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật có liên quan, góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
3. Xây dựng Luật phải dựa trên cơ sở thực tiễn và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, phản ánh đúng các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam hiện nay và phải tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành của Luật.
4. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển các kết quả của công tác xây dựng pháp luật của nước ta qua các thời kỳ; nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của các nước về xây dựng, thực hiện pháp luật về trưng cầu ý dân.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật gồm 8 chương, 52 Điều:
- Chương I gồm 13 điều (từ Điều 1 đến Điều 13) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc trưng cầu ý dân; người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân; các vấn đề trưng cầu ý dân; phạm vi tổ chức, ngày bỏ phiếu, các trường hợp không tổ chức trưng cầu ý dân; giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân; hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân; kinh phí tổ chức và các hành vi
 






Các ý kiến mới nhất